Nguyên nhân của bệnh viêm gan B là gì?

Là một bệnh truyền nhiễm do dòng vi rút hepadnavirus gây ra nhiễm trùng cấp tính hoặc mãn tính tại gan. Do triệu chứng nhạt nhòa thiếu đặc hiệu ngay từ đầu nên người bệnh không để ý phát hiện.

Nhận biết bệnh viêm gan B thế nào?

Khó nhận biết bệnh này bởi cảm nhận của người bệnh và thầy thuốc, vì các triệu chứng rất không đặc hiệu ngày từ lúc nhiễm bệnh. Có thể chỉ là nôn mửa chút ít, da vàng nhẹ, mệt mỏi, nước tiểu sẫm màu và đau bụng hạ sườn phải, dễ nhầm với triệu chứng của bệnh khác.

Chẩn đoán bệnh này bằng cách nào?

Để phát hiện bệnh nhất thiết phải làm xét nghiệm máu, nếu thấy:

HBsAg (+) là có hiện diện kháng nguyên vỏ vi rút;

HBcAg (+) là có hiện diện kháng nguyên nhân vi rút;

HBeAg (+) là có hiện diện kháng nguyên nhánh tách của vi rút, chứng tỏ giai đoạn này lây mạnh;

Anti Hbe (+) chứng tỏ vi rút đã hết khả năng lây;

GOT & GPT tăng cao chứng tỏ tế bào gan có viêm hủy hoại, nếu xét nghiệm này bình thường có thể đó là người lành mang mầm bệnh.

Định lượng HBV-DNA để định lượng vi rút nhiều hay ít, gọi là xét nghiệm tải lượng vi rút;

Nếu có (1,2,3 đều âm tính) trong khi (4 dương tính) và (6 đếm tải lượng) không đếm được nữa thì coi như khỏi.

Diễn tiến chung của bệnh viêm gan B thế nào?

Thời gian ủ bệnh kéo dài 30 - 180 ngày, sẽ có khoảng 90% số người chuyển thành viêm gan B mãn tính và/hoặc trở thành người lành mang vi rút, những người này rất ít triệu chứng lâm sàng; trong 10% còn lại có 80% số này này diễn tiến tới xơ gan và 20% tiến triển thành ung thư gan. 

Bệnh viêm gan B lây nhiễm như thế nào?

Người ta thấy loại vi rút này có ở con diệc, con vịt, sóc đất, sóc đỏ, 1 số loài vượn và thấy cả trong đất, chưa rõ chúng lây sang người bằng cách nào. Người là nguồn lây chính sang cho người qua truyền máu, tiêm chích, xăm nhể, châm cứu... đặc biệt lây nhiễm mạnh qua tiếp xúc tình dục có cọ xát và tiết dịch trực tiếp – trực tiếp; lây qua đường tình dục gấp khoảng 50-100 lần so với HIV/AIDS; nếu làm tình không có biện pháp an toàn với người bệnh, trung bình tỷ lệ lây là 87/100 lần. Còn lây trong thai kỳ do mẹ truyền cho con qua dây rốn. Bệnh không lây qua đồ dùng, muỗi đốt, hôn hít, ôm hôn, bắt tay, hắt xì hơi, ngủ chung hoặc qua ăn uống.

Người bệnh giao hợp chỉ cọ xát tiếp xúc dương vật với môi lớn, môi bé có thể lây bệnh không?

Có thể lây bệnh là khá chắc chắn.

Bệnh này có thể tự khỏi không?

Có, nhưng chưa biết rõ cơ chế tại sao tự khỏi.

Xét nghiệm GOT & GPT thấy tăng cao có phải viêm gan B không?

Không chắc phải, vì các men gan này có thể tăng do các loại viêm gan khác và nguyên nhân khác.

Phòng bệnh này như thế nào?

Tiêm chủng Vắc-xin, nếu chưa tiêm chủng cần chú trọng an toàn tình dục và vô khuẩn khi can thiệp cơ thể có xâm nhập dụng cụ y tế: tiêm chích, truyền máu, châm cứu...

Số người nhiễm bệnh viêm gan B nhiều không?

Rất nhiều, Khoảng 1/3 dân số thế giới đã bị nhiễm bệnh tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời của họ, số người tự khỏi là không kiểm chứng được, vì họ không nằm trong diện kiểm soát.  Năm 2013 cả thế giới có 343 triệu người bệnh mãn tính; mắc mới thêm 129 triệu ca; hơn 750.000 người chết trong năm, trong đó khoảng 300.000 là chết do ung thư gan, khoảng 450.000 người chết do xơ gan.

Ngoài gan bệnh này còn có biến chứng ở những cơ quan nào nữa? 

Rất hiếm gặp, chỉ có thể gặp hội chứng viêm mạch hoại tử cấp tính trong viêm đa giác mạc, viêm cầu thận màng và viêm màng bồ đào ở trẻ em, nhưng rất ít.

Người đã khỏi có nhiễm lại nữa không?

Có, nhưng chỉ trên những người mất năng lực miễn dịch mắc phải.

Những người đã tiêm phòng vac-xin có hoàn toàn miễn nhiễm không?

Chắc chắn là không.

Tại sao viêm gan B men gan lại tăng cao?

Men gan chỉ có trong nội tế bào gan, khi tế bào gan bị vi rút HBV xâm nhập vào bên trong, đáp ứng miễn dịch của vật chủ là các tế bào lympho T độc tế bào đặc hiệu với virus (CTL) tìm đến loại bỏ HBV bằng cách giết luôn các tế bào gan bị nhiễm. Như vậy, để giết được vi rút thì phải hy sinh cả tế bào gan, tế bào gan chết giải phong men gan, nên trong máu xét nghiệm sẽ thấy GOT & GPT tăng cao.

Có trường hợp nào tiêm phòng đầy đủ vẫn bị viêm gan B hay không?

Tiêm càng sớm đáp ứng của kháng thể càng mạnh, tốt nhất là ngay sau sinh, càng nhiều tuổi đáp ứng càng yếu nên sẽ có tỷ lệ đã tiêm phòng nhưng vẫn bị mắc bệnh. Tiêm phòng ngay sau sinh bảo vệ được 95%; Tiêm khi độ tuổi 40 bảo vệ được 90%; độ tuổi 60 chỉ còn được 75%.

Đối tượng nguy cơ cao gồm những thành phần nào?

Những người nhiều bạn tình, du lịch tình dục, người suy thận mạn tính và nhân viên y tế.

Nếu so sánh viêm gan B với HIV?AIDS thì bệnh nào nguy hiểm hơn?

Viên gan B nguy hiểm hơn, tỷ lệ chết cao hơn và chết sớm hơn.

Điều trị bệnh viên gan B bằng thuốc gì thì hiệu quả?

Bất kể thuốc nào dùng điều trị viêm gan B đều phải thỏa mãn tăng cường thể trạng và ức chế sản xuất các thành phần cấu tạo nên vi rút, đó là ức chế các men sao chép ngược DNA, RNA, mDNA nhờ đó vi rút không sinh sản được trong khi đó vòng đời của chúng là có hạn.

  1. Thuốc tây gồm 8 loại: 1) lamivudine; 2) adefovir: 3) tenofovirdisoproxil; 4) telbivudine; 5) entecavir; 6) tenofovir alafenamide; 7) interferon alpha-2a; 8) interferon alpha-1a. Kèm theo các thuốc tăng cường thể trạng;
  2. Thuốc nam: Trong Bảo nhất gan Bz có dùng cây thuốc người dân tốc thiểu số gọi là cây Bàn tay ma, tiếng Tày gọi Khao mừ phi, tiếng Dao gọi Màn pù giăng... tên khoa học là  Heliciopsis lobata (Merr.) Sleum., thuộc họ Chẹo thui - Proteaceae. Nó thỏa mãn cả 2 yếu tố nêu trên nên giảm men gan nhanh, giảm tải lượng vi rút nhanh có thể hơn 8 loại thuốc trên, theo đó liệu trình điều trị chỉ còn lại bằng ½ so với các liệu trình khác.

Xơ gan cổ chướng nhưng gan còn to có dùng được Bảo nhất gan Bz không?

Dùng được, vì gan còn to chứng to gan còn khả năng bù.

Viêm gan do rượu hoặc các nguyên nhân khác khiến men gan tăng mạnh có dùng được Bảo nhất gan Bz không?

Dùng có hiệu quả tốt.

Dùng bảo nhất gan Bz để điều trị viêm gan B cần lưu ý gì?

Cần dùng liều 6 viên/ngày từ đầu, duy trì liều này, tuyệt đối không giảm liều để tránh vi rút kháng thuốc; Các trường hợp trước đó vi rút đã kháng thuốc cần dùng liều khởỉ điểm 9 viên/24h ngay; không giảm liều, không bỏ thuốc, không ngắt quãng; quen uống. Thường kỳ mỗi tháng đếm tải lượng vi rút và và các xét nghiệm nêu trên 1 lần đến khi khỏi hẳn.

Biên soạn đồng chủ nhiệm đề tài khoa học: Bs Hoàng Sầm, 0913256913.

[]